Saturday, 19/06/2021 - 01:17|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường Tiểu học Cổ Lũng 2

Sáng kiến: “Một số giải pháp giúp đỡ học sinh khắc phục sai lầm khi gặp những bài toán mang yếu tố hình học”.

Sáng kiến: “Một số giải pháp giúp đỡ học sinh khắc phục sai lầm khi gặp những bài toán mang yếu tố hình học”.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 
 

 

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: - Hội đồng sáng kiến huyện Phú Lương;  

                             - Hội đồng sáng kiến phòng Giáo dục Đào tạo Phú Lương.                             

Tôi (chúng tôi) ghi tên dưới đây:

Số TT

Họ và tên

Ngày tháng năm sinh

Nơi công tác

(hoặc nơi thường trú)

Chức danh

Trình độ chuyên môn

Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến

 

1

 

Bùi Thị Nga

 

14/11/1973

Trường tiểu học

 Cổ Lũng I

Phó Hiệu trưởng

Đại học sư phạm tiểu học

 

100%

Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Một số giải pháp giúp đỡ học sinh khắc phục sai lầm khi gặp những bài toán mang yếu tố hình học”.

I. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Bùi Thị Nga - Trường tiểu học Cổ Lũng I

II. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn toán lớp 5

III. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Ngày 15 tháng 9 năm 2018

           IV. Mô tả bản chất của sáng kiến

1. Vấn đề sáng kiến giải quyết

1.1. Mục đích áp dụng

        Trên cơ sở tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí của học sinh nhận thức chậm khi học toán. Phân tích nguyên nhân của học sinh nhận thức chậm khi học toán.     Đề xuất các biện pháp giúp đỡ học sinh khắc phục khó khăn khi giải toán có nội dung hình học ở lớp 5, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học toán ở Tiểu học.

1.2.  Đối tượng, phạm vi áp dụng sáng kiến

Đối tượng áp dụng: Khả năng hiểu biết các bài tập về nhận dạng hình, vẽ hình, xếp ghép hình, các bài tập về tính diện tích, chu vi, thể tích các hình của học sinh lớp 5, trường tiểu học Cổ Lũng I.

Phạm vi áp dụng: Do điều kiện thời gian và khuôn khổ của sáng kiến, việc nghiên cứu sáng kiến này được tiến hành và áp dụng ở trường tiểu học Cổ Lũng I trong năm học 2018 - 2019. 

2. Mô tả bản chất của sáng kiến

2.1. Về nội dung của sáng kiến

2.1.1.  Cơ sở lý luận của việc dạy các yếu tố hình học

2.1.1.1. Vị trí và tầm quan trọng của việc dạy các yếu tố hình học

Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu của nhân cách con người Việt Nam. Môn toán có vị trí quan trọng và trong đó, việc dạy yếu tố hình học rất quan trọng vì:

         - Các kiến thức, kĩ năng của hình học có nhiều ứng dụng trong đời sống, rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác ở Tiểu học và học tiếp hình học ở các bậc học khác.

         - Giúp học sinh nhận biết mối quan hệ của hình dạng không gian và thế giới hiện thực.

         - Góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, suy luận, giải quyết vấn đề góp phần phát triển trí thông minh, suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo đóng góp vào việc hình thành phẩm chất cần thiết, quan trọng của người lao động.

 

2.1.1.2. Dạy toán có nội dung hình học ở lớp 5

Các yếu tố hình học là:

a. Hình tam giác: Các loại hình tam giác, diện tích hình tam giác, chiều

cao, cạnh đáy.

b. Hình thang: Hình thang vuông, đáy lớn, đáy nhỏ, chiều cao và diện tích hình thang.

c. Hình tròn và đường tròn: Tâm, bán kính, đường kính chu vi và diện tích hình tròn.

d. Hình hộp chữ nhật, hình lập phương: Các yếu tố kích thước chiều dài, chiều rộng, chiều cao, diện tích xung quanh và diện tích toàn phần hình hộp chữ nhật, hình lập phương.

         đ. Thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương.

         e. Giới thiệu hình trụ, giới thiệu hình cầu.

         Các yếu tố hình học ở lớp 5 đã kế thừa và phát triển các yếu tố hình học đã học ở các lớp dưới. Yếu tố hình học được sắp xếp thành chương. Các kiến thức hình học ở lớp 5 bổ sung khái quát hoàn thiện hệ thống các kiến thức về hình dạng, diện tích và thể tích các hình phẳng; hình không gian (hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ, hình cầu) và tính diện tích hình khối là hình hộp chữ nhật, hình lập phương. Sách toán 5 đã tăng cường các bài luyện tập giúp học sinh củng cố các kiến thức đã học, rèn luyện kĩ năng hình học cần thiết, phát triển tư duy, trí trưởng tượng không gian, năng lực quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp. Cho học sinh thấy được việc vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn.

2.1.2. Cơ sở thực tiễn của việc dạy - học giải toán có nội dung hình học ở lớp 5

2.1.2.1. Nhận xét chung về đặc điểm của trường, lớp

2.1.2.1.1. Đặc điểm của xã Cổ Lũng

* Đặc điểm chung về địa lý, dân cư

  Cổ Lũng  là một xã trung du miền núi của huyện Phú Lương, có vị trí địa lý như sau: Phía Bắc giáp Thành phố Thái Nguyên; Phía Tây giáp huyện Đại Từ; Phía Nam giáp xã Vô Tranh. Diện tích: 1 686,92 ha. Tổng số hộ dân: 2 478 hộ. Tổng số khẩu: 9 787 khẩu. Tổng số xóm: 18 xóm. Tổng số trường học: 04 trường.

* Đặc điểm về  kinh tế - xã hội

Cổ Lũng là xã thuần nông, người dân phần lớn làm nông nghiệp, sản xuất lúa, ngô, khoai, chăn nuôi. Trong 18 xóm, có 01 xóm được công nhận “Làng nghề bánh chưng. Tuy nhiên, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn với 97 hộ nghèo và 54 hộ cận nghèo, xóm được công nhận xóm văn hóa 15/18 xóm. Thu nhập bình quân đầu người trong các năm gần đây có tăng lên nhưng vẫn còn thấp. Năm 2018 đạt 28 triệu đồng/người/năm. Do đó, đời sống kinh tế cũng như trình độ dân trí còn những hạn chế nhất định so với các địa phương khác trong huyện.

* Tình hình chung về phát triển Giáo dục và Đào tạo

Cổ Lũng  là xã có truyền thống văn hóa. Trên địa bàn xã có 04 dân tộc anh em là Kinh, Sán Chí, Tày, Nùng cùng chung sống. Toàn xã có 04 trường học;   Các nhà trường luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của ngành cũng như lãnh đạo Đảng ủy - chính quyền địa phương và được xây dựng ở các khu trung tâm, tập trung dân cư, giao thông khá thuận tiện, tạo điều kiện cho con em các dân tộc trong xã đến trường được dễ dàng. Xã Cổ Lũng đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 1 năm 2010, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 từ năm 2012.

 2.1.2.2. Đặc điểm của trường tiểu học Cổ Lũng I

Trường tiểu học Cổ Lũng I được tách ra từ trường phổ thông cơ sở Cổ Lũng  năm 1992, có địa điểm chính tại  xóm Cổng Đồn, xã Cổ Lũng. Năm 2009,  nhà trường được xây mới và chuyển địa điểm về xóm Số 9 xã Cổ Lũng. Nhà trường được giao nhiệm vụ giáo dục tiểu học 9  xóm phía Tây của xã. Đa số học sinh thuộc địa bàn trường quản lý là gia đình thuần nông, nhiều em bố mẹ làm ăn xa, hầu hết các em phải sống với ông bà. Đời sống kinh tế và dân trí còn nhiều hạn chế, khó khăn. Khi mới tách ra, cơ sở vật chất của nhà trường gặp muôn vàn khó khăn, trường có 08 lớp học thì có 08 phòng học tạm cấp 4 xuống cấp trầm trọng. Các trang thiết bị không đủ để phục vụ cho hoạt động dạy và học của nhà trường.

Trong những năm qua, nhà trường luôn nhận được sự chỉ đạo có hiệu quả

của Ủy ban nhân dân huyện Phú Lương, phòng Giáo dục và Đào tạo Phú Lương, của lãnh đạo Đảng ủy, chính quyền địa phương và sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình của nhân dân xã Cổ Lũng, cha mẹ học sinh, sự phấn đấu kiên trì của tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên. Tháng 11 năm 2012, trường tiểu học Cổ Lũng I đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên công nhận trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1 theo Quyết định số 2608/QĐ-UBND ngày 06 tháng 11 năm 2012 và được công nhận lại ngày 18 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định số 140/QĐ-UBND.

Năm học 2018 - 2019, nhà trường có 217 em học sinh, trong đó: nữ 111; dân tộc 86; con hộ nghèo và gia đình chính sách: 06; Học sinh khuyết tật 02. Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên của nhà trường gồm 21 đồng chí. Trong đó số cán bộ, giáo viên, nhân viên đạt trên chuẩn là 92,9%. Trường có diện tích 4 981m2, có đầy đủ sân chơi, bãi tập. Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, sự phối hợp chặt chẽ của các bậc cha mẹ học sinh nên đến nay, trường đã có cơ sở vật chất khá khang trang, đáp ứng được nhu cầu dạy và học. 

Tuy nhiên, phần lớn học sinh của trường là con em gia đình chủ yếu làm nghề nông. Là một trường mà số gia đình chưa quan tâm đến việc học tập của các em cũng tương đối, mải làm kinh tế, còn phó mặc con cái cho nhà trường. Đồ dùng học tập còn thiếu, học sinh nhiều em tiếp thu bài còn chậm, còn lúng túng trong vẽ hình, lập luận khi giải các bài toán có nội dung hình học. Do vậy, việc học tập của các em còn gặp nhiều khó khăn.

Năm học 2018 – 2019, tổng số học sinh của lớp 5 là: 40 em với 23 em nữ, 17 em nam. Dân tộc thiểu số: 12 em.  Trong đó nhiều em thuộc gia đình có hoàn cảnh tương đối khó khăn, các em còn phải giúp đỡ gia đình, chưa có nhiều thời gian dành cho việc học tập.

          Kết quả khảo sát đầu năm về môn Toán của lớp 5 đạt được như sau:

TSHS

Điểm 9, 10

Điểm 7, 8

Điểm 5, 6

Điểm dưới 5

40

TS

Tỉ lệ %

TS

Tỉ lệ %

TS

Tỉ lệ %

TS

Tỉ lệ %

3

7,5

18

45

15

37,5

4

10

 

3. Những sai lầm thường mắc và biện pháp khắc phục

3.1. Sai lầm khi nhận dạng các hình

3.1.1. Khi thay đổi vị trí các hình, học sinh thường không nhận dạng được đúng hình đã cho

* Ví dụ: BT1 (SGK - 91): Trong các hình dưới đây, hình nào là hình thang?

 

hình 1

 

hình 2

hình 3

hình 6

hình 5

hình 4

 

 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Nguyên nhân:

  Khi thay đổi vị trí các hình, học sinh thường không nhận dạng được đúng các hình đã cho do không nắm chắc đặc điểm của hình thang. Học sinh nhận dạng hình dựa vào trực giác cảm tính.

* Biện pháp:

Yêu cầu học sinh thực hành nhận biết đặc điểm của hình thang với các hình đã học (có 1 cặp cạnh đối diện song song). Giáo viên đưa cho học sinh một số hình là hình thang và không phải là hình thang để học sinh nhận dạng.

3.1.2. Sai lầm khi đặt hay đọc tên một hình

* Ví dụ: Khi đọc tên hình hộp chữ nhật, các em thường đọc lộn xộn và đổi chỗ các chữ cái trong tên gọi.

Chẳng hạn: Hình hộp chữ nhật ABCD MNPQ đọc thành ABMNDCQP.

* Nguyên nhân:

Do khả năng suy luận kém, các em đọc tự do theo cảm tính, các em cho rằng chỉ cần đọc đủ các chữ cái là được.

* Biện pháp:

Giáo viên cần quan tâm giúp đỡ các em, giúp các em xác định các đỉnh các cạnh từ đó giúp các em có cách đọc khoa học, đúng tên gọi của hình.

3.1.3. Sai lầm khi mô tả hình

  Khi mô tả hình, học sinh thường không mô tả đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng của một hình, có khi mô tả thừa, cũng có khi mô tả thiếu các dấu hiệu.

- Hình hộp chữ nhật có 8 đỉnh, 12 cạnh.

- Hình hộp chữ nhật là hình có 8 đỉnh, 6 mặt, ...

* Nguyên nhân:  Học sinh không nắm chắc đặc điểm của các hình học cần mô tả. Không rõ dấu hiệu đặc trưng của từng hình.

* Biện pháp:

Giáo viên cần khắc sâu, chỉ ra các dấu hiệu đặc trưng của từng hình đưa ra những phản ví dụ để học sinh thấy rõ tác hại của việc mô tả thừa hoặc thiếu các dấu hiệu đặc trưng.

 

3.2. Sai lầm trong việc vẽ hình

3.2.1. Vẽ hình với dữ kiện cho trước

* Ví dụ: Vẽ hình tròn có đường kính 5 cm.

Học sinh thường không tìm bán kính mà vẽ ngay hình tròn có bán kính là 5 cm.

* Nguyên nhân:

- Do các em chưa đọc kỹ dữ kiện đã cho. Khả năng phân tích, tổng hợp của các em còn hạn chế, không thấy được mối quan hệ giữa yếu tố đã cho và yếu tố tạo nên hình cần vẽ. Do giáo viên hướng dẫn chưa tỉ mỉ.

* Biện pháp:

- Giáo viên cần hướng dẫn tỉ mỉ: Để vẽ được hình tròn khi biết đường kính cần phải tính được bán kính, sau đó phải xác định độ rộng của compa, quay đầu có chì, đầu có đỉnh làm tâm và vẽ thành hình tròn.

3.2.2. Vẽ theo mẫu

* Ví dụ: Bài 3 (Trang 97 - Toán 5)

 

- Khi làm bài tập này, học sinh rất lúng túng khi vẽ hai nửa hình tròn bên trong. Các em không xác định được đây là hai nửa hình tròn bằng nhau, đường kính của hình tròn nhỏ là bán kính của hình tròn lớn, do vậy các em thường vẽ đường ngoằn ngoèo bên trong.

* Biện pháp:

Trước khi vẽ, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát và cho biết hình nào để học sinh phân tích thấy được hình cần vẽ là hình tròn to và 2 nửa hình tròn nhỏ. Học sinh có thể đếm số ô vuông để xác định tâm và bán kính được vẽ.

3.3. Sai lầm trong khi giải các bài tập

3.3.1. Tính diện tích hình tam giác, hình thang

* Ví dụ: Bài tập 4: (Trang 90 - Toán 5)

 Cho biết diện tích hình chữ nhật ABCD là 2400 cm2 (xem hình vẽ). Tính diện tích hình tam giác MDC.

 

 

15cm

 

25cm

M

A

B

C

D

 

 
 

 

 

 

 

 

 

  Khi giải bài này, các em học sinh nhận thức chậm sẽ làm bài là:

            Diện tích hình tam giác MDC là:

                  (15 x 25) : 2= 187,5 (cm2)

* Nguyên nhân:

- Do các em không đọc kỹ đầu bài mà quan sát qua loa, không chịu suy nghĩ và cứ có kích thước là tuỳ tiện làm bài.

* Biện pháp:

Yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài, quan sát kỹ hình trong SGK.

          Hỏi: - Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?

                  - Để tính được diện tích tam giác MDC ta cần phải biết gì? Độ dài cạnh đáy chính là độ dài cạnh nào của hình chữ nhật?

                 - Muốn tính chiều cao của hình tam giác ta phải làm thế nào?

Yêu cầu học sinh tính diện tích hình tam giác và trình bày lời giải vào vở.

3.3.2. Tính chu vi, diện tích hình tròn

Đối với bài toán vận dụng trực tiếp công thức tính, đại bộ phận học sinh nắm chắc quy tắc. Các em giải được các bài toán đơn giản. Nhưng khi đầu bài thay đổi một chút và các bài toán có nội dung thực tế, học sinh không giải được.

Bài 3: (Trang 100 - Toán 5)

Miệng giếng nước là hình tròn có bán kính 0,7 m2. Người ta xây thành

giếng rộng 0,3m bao quanh  miệng giếng. Tính diện tích của thành giếng đó?                 trtrtrtr

Khi gặp bài toán này học sinh nhận thức chậm hầu như không làm được.

* Nguyên nhân:

 Do khả năng quan sát và tưởng tượng của các em còn rất kém nên các em không tìm được hướng đi của bài.

* Biện pháp:

- Học sinh đọc kỹ đầu bài và quan sát kỹ hình.

- Có mấy hình tròn? Diện tích thành giếng chính là phần diện tích mầu gì?

- Để tìm diện tích thành giếng ta phải làm như thế nào? (Diện tích hình tròn to trừ đi diện tích hình tròn nhỏ).

- Dựa vào đâu để tính diện tích hình tròn nhỏ?

- Để tìm diện tích hình tròn to ta phải tìm gì? Bán kính hình tròn to bằng?

- Học sinh nêu lại cách làm và làm vào vở.

Ví dụ 2: Bài 3 (Trang 106 - Toán 5)

Một sợi dây nối 2 bánh ròng rọc (như hình vẽ). Đường kính của bánh xe có độ dài 0,35 m. Hai trục cách nhau 3,1 m. Tính độ dài của sợi dây.

 

0,35m

 

       3,1m

 

 
 

 

 

 

Đây là một bài toán khó, nếu giáo viên không có phương pháp tốt thì học sinh không làm được bài.

* Nguyên nhân:

 Do khả năng quan sát, phân tích và tưởng tượng của các em còn hạn chế.

* Biện pháp:

- Học sinh đọc kĩ đầu bài, quan sát kĩ hình giáo viên đã vẽ phóng to trên bảng.

- Học sinh lên bảng chỉ độ dài của sợi dây.

- Độ dài của sợi dây là độ dài của những đoạn nào cộng lại?

+ Độ dài của đoạn dây đi qua hai đầu của bánh xe chính bằng phần nào của bánh xe? (2 nửa chu vi của bánh xe), hay chu vi của bánh xe. Đoạn còn lại của sợi dây là đoạn nào? (2 lần khoảng cách giữa 2 trục).

- Học sinh nêu lại cách làm và làm vào vở.

Ví dụ 3: Bài 2 (Trang 100 - Toán 5)

Tính diện tích hình tròn biết chu vi C = 6,28 cm.

* Nguyên nhân:

Do khả năng phân tích, tổng hợp còn kém và thói quen tìm ngay kết quả dựa vào công thức.

* Biện pháp:

  Giáo viên nêu một số câu hỏi gợi ý.

 Diện tích hình tròn đã tính được ngay chưa? Để tính được diện tích hình tròn ta phải biết gì?  Để tính được bán kính hình tròn ta dựa vào yếu tố nào đã biết?

 Nêu lại cách tính chu vi hình tròn? (d x 3,14 = C)

- Đã biết yếu tố nào trong công thức trên?

- Học sinh thay chu vi là 6,28 vào công thức trên.

- Học sinh tìm đường kính và bán kính hình tròn.

- 2, 3 HS nêu cách tìm bán kính hình tròn khi biết chu vi? (lấy chu vi chia 3,14 được đường kính, đường kính chia cho 2 được bán kính).

- Học sinh tính diện tích hình tròn dựa vào quy tắc.

3.3.3. Tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương

- Đối với những bài toán vận dụng trực tiếp công thức tính, nếu khi dạy bài hình thành công thức tính, giáo viên giúp các em học sinh nắm chắc được quy tắc và công thức tính thì các em sẽ áp dụng và giải được các bài toán đơn giản. Nhưng với những bài toán không áp dụng ngay được công thức hoặc kết hợp nhiều kiến thức đã học thì các em lúng túng không giải được.

Ví dụ 1: Bài số 1 (Trang 128 - Toán 5)

Một bể kính nuôi cá dạng hình hộp chữ nhật có chiều dài 1m, chiều rộng 50 cm, chiều cao 60cm. Tính:

a. Diện tích kính dùng để làm (bể cá đó không có nắp).

b. Thể tích bể cá đó?                                                                           

c. Mức nước trong bể bằng 3/4 chiều cao của bể.

Tính thể tích nước trong bể đó (độ dày kính không đáng kể)

           

be

* Nguyên nhân:

Do khả năng phân tích của các em còn rất kém, các em không đọc kĩ đầu bài, lười suy nghĩ.

* Biện pháp:

- Yêu cầu học sinh đọc kĩ đầu bài.

- Giúp học sinh phân tích đề bài để tìm ra cách giải.

+ Em hãy nêu các kích thước của bể cá? Em thấy các kích thước này có

cùng đơn vị đo chưa? Vậy trước khi giải bài toán ta cần phải làm gì? (đổi cùng một đơn vị đo).

+ Diện tích dùng làm bể cá là diện tích của những mặt nào? (diện tích xung quanh và diện tích mặt đáy).

+ Em hãy nêu công thức tính diện tích xung quanh và diện tích đáy?

+ Em hãy nêu công thức tính thể tích?

+ Lượng nước trong bể bằng bao nhiêu phần chiều cao của bể?

+ Vậy thể tích của nước sẽ bằng bao nhiêu phần thể tích của bể? (3/4)

+ Muốn tính thể tích của nước ta làm như thế nào?

- 2 HS nhận thức chậm nêu lại cách làm.

- Học sinh tự làm vào vở.

Ví dụ: Bài 3 (Trang 169 - Toán 5)

 Một khối nhựa hình lập phương có cạnh dài 10 cm và gấp đôi cạnh khối gỗ cũng hình lập phương. Hỏi diện tích toàn phần của khối nhựa gấp mấy lần diện tích toàn phần của khối gỗ.

* Nguyên nhân:

  Do khả năng ước lượng còn hạn chế nhận thức của các em dựa vào trực giác không để ý những dữ kiện trong bài tập.

* Biện pháp:

- Yêu cầu học sinh đọc đề bài. Hỏi: Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?

-  Để so sánh diện tích toàn phần của 2 khối lập phương với nhau, chúng ta phải làm gì? (Tính diện tích toàn phần của 2 khối)

- Diện tích toàn phần của khối lập phương nào chúng ta có thể tìm được ngay?

- Để tính diện tích toàn phần của khối lập phương gỗ trước hết ta phải làm tìm gì? (tìm cạnh).

- Em hãy nêu công thức tính diện tích toàn phần hình hộp chữ nhật?

- So sánh diện tích toàn phần của 2 khối ta phải làm như thế nào?

- Học sinh nêu lại cách làm và tự làm bài vào vở.

4. Về khả năng áp dụng của sáng kiến

Với trách nhiệm được giao, từ tháng 9/2018, tôi đã áp dụng các biện pháp vào thực hiện công tác giáo dục trong đơn vị và đã thu được kết quả:

Qua thực nghiệm theo các phương pháp đề xuất trong sáng kiến để giúp đỡ học sinh khắc phục khó khăn khi giải các bài toán có nội dung hình học, với các biện pháp đã nêu trên và sự tận tình giúp đỡ học sinh nhận thức còn chậm. Tôi nhận thấy học sinh học tập tích cực hơn, các em hứng thú trong học tập và tích cực tham gia thực hành.

- Các em học sinh đều nắm chắc các biểu tượng hình học được học.

- Biết vẽ hình chính xác.

- Nắm chắc các đặc điểm về yếu tố của hình, đường kính, bán kính, hình tròn, đường tròn.

- Những em học sinh nhận thức chậm không còn nhầm lẫn khi gọi tên các hình.

- Hầu hết các em đã giải thành thạo các bài toán mang nội dung hình học.

- Kết quả kiểm tra định kỳ giữa học kỳ 2 của lớp 5 về môn toán đạt được như sau:

TSHS

Điểm 9, 10

Điểm 7, 8

Điểm 5, 6

Điểm dưới 5

40

TS

Tỉ lệ %

TS

Tỉ lệ %

TS

Tỉ lệ %

TS

Tỉ lệ %

26

65

9

22,5

5

12,5

0

0

V. Nguyên nhân thành công và những tồn tại từ việc giúp đỡ học sinh khắc phục sai lầm khi gặp những bài toán mang yếu tố hình học

1. Nguyên nhân thành công

1.1. Ưu điểm   

Để việc dạy học môn toán lớp 5 nói chung và dạy các yếu tố hình học nói riêng, người giáo viên cần phải nắm bắt được bài học thuộc phần nào trong toàn bộ chương trình của bậc Tiểu học. Từ đó xác định rõ mục tiêu, yêu cầu của bài, mức độ kiến thức và các kĩ năng cơ bản. Muốn làm được điều đó đòi hỏi chính bản thân phải có sự đầu tư thời gian, nghiên cứu kĩ nội dung của bài. Hiểu được ý đồ của sách giáo khoa, của tác giả.

Cần nắm bắt được đối tượng học sinh của lớp mình phụ trách và chỉ có như thế mới thiết kế được bài dạy phù hợp.

Cần có những định hướng trước về một số những điểm hay những nội

dung của bài dạy mà đến phần đó học sinh dễ bị nhầm lẫn hoặc khó hiểu. Khi đã có định hướng sẵn những điều đó, giáo viên có thể đưa ra một số giải pháp phù hợp.

Hệ thống kiến thức theo chương trình. Đưa ra nội dung bài tập phù hợp với kiến thức để học sinh có thể luyện tập kiến thức mới và ôn lại kiến thức đã học. Phân hóa đối tượng học sinh. Quan sát và theo dõi từng hoạt động của các em, bằng nhiều hình thức tổ chức (thi đua cá nhân, thi đua tổ nhóm, đố vui, giải trí,…). Kết hợp kiểm tra thường xuyên việc học của các em mỗi ngày nhằm rèn thói quen học bài và làm bài, kích thích hoạt động trí tuệ cho các em.

Cần tìm hiểu, nắm vững những vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học nói chung và môn Toán nói riêng.

Giáo viên không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn và đặc biệt là kiến thức về hình học. Trong khi dạy cần phải biết tận dụng những tình huống sư phạm để xử lý, làm cho giờ học thêm sinh động và có chiều sâu.

Cần phát huy khả năng sáng tạo của học sinh, khích lệ các em kịp thời, đặc biệt đối với học sinh nhận thức chậm. Thường xuyên quan tâm sâu sát hoạt động của các em, nhắc nhở động viên kịp thời. Khích lệ khi em có tinh thần tập thể và lòng vị tha. Không nên phê bình, trách phạt, sỉ nhục, xúc phạm đến các em. Tránh hình thức áp đặt doạ dẫm, buộc các em phải làm theo … vì điều đó sẽ không đem lại kết quả cao trong công tác giáo dục học sinh.

Tuyên dương kịp thời với tác dụng: Xác nhận sự tiến bộ ở học sinh. Kích thích sự say mê, hứng thú học tập của học sinh. Thúc đẩy hành động theo chuẩn mực. Giúp học sinh tự tin là mình học được, mình có thể giỏi như các bạn… Sửa chữa hành vi sai lệch của học sinh. Kiềm chế sự bộc phát, tập thói quen chu đáo và cẩn thận cho các em.

Xây dựng động cơ học tập cho học sinh chính là xác định học sinh hiểu học để làm gì? Vì sao phải học?

Hợp tác giữa giáo viên và phụ huynh là điều cần thiết để học sinh học tập

và rèn luyện. Qua đó, giáo viên sẽ thông tin kịp thời đến phụ huynh về kết quả học tập, năng lực, phẩm chất, các mặt tham gia hoạt động … của con em mình thông qua sổ liên lạc, điện thoại… Giáo viên và phụ huynh cần phải có sự liên kết hai chiều nhằm có biện pháp tác động phù hợp. Động viên khuyến khích khi các em tiến bộ, nhắc nhở kịp thời khi các em có biểu hiện cần uốn nắn.

1.2. Tồn tại

Mặc dù đã tham mưu rất tích cực nhưng nguồn ngân sách còn hạn hẹp, do đó cơ sở vật chất của nhà trường mới chỉ đáp ứng được mức quy định tối thiểu. Nhiều bộ đồ dùng dạy học môn toán đã xuống cấp trầm trọng, hư hỏng, thất thoát, không đồng bộ, ...

2. Bài học kinh nghiệm, đề xuất, khuyến nghị

- Trong khi dạy cần phải biết tận dụng những tình huống sư phạm để xử lý, làm cho giờ học thêm sinh động và có chiều sâu.

- Cần phát huy khả năng sáng tạo của học sinh, động viên, khích lệ các em kịp thời, đặc biệt đối với học sinh yếu kém.

- Nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới quản lý, giảng dạy, xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực, cải tạo môi trường giáo dục lành mạnh  không chỉ là nhiệm vụ  mà còn là cơ sở  để  thực hiện công tác giáo dục có chất lượng bền vững. Đào tạo đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo chất lượng với yêu cầu cao.

                                                                                                                                               Người viết:

 

 

                                                                                                                                             Bùi Thị Nga

Tác giả: Bùi Thị Nga
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Hôm qua : 5
Tháng 06 : 59
Năm 2021 : 1.164